Nghiên cứu khoa học sinh viên ngành luật là hoạt động sinh viên tự đặt một câu hỏi pháp lý, chọn phương pháp phù hợp để trả lời và trình bày kết quả thành một bài viết hoặc công trình, thường được khoa hoặc trường tổ chức xét chọn hằng năm. Khác các ngành thực nghiệm, nghiên cứu luật học chủ yếu làm việc với văn bản, bản án, quan điểm khoa học và số liệu thực tiễn; phương pháp nòng cốt gồm phân tích quy phạm, so sánh luật, nghiên cứu thực tiễn áp dụng và, ở một số đề tài, khảo sát xã hội học.
Bài này dành cho sinh viên năm hai, năm ba muốn thử sức với nghiên cứu: các phương pháp nghiên cứu luật học thường dùng, cách chọn phương pháp theo câu hỏi, cách viết một bài nghiên cứu ngắn cho hội thảo hay tập san sinh viên, và những sai lầm của người mới. Thể lệ cụ thể của từng cuộc thi hay giải thưởng do đơn vị tổ chức quy định.
Câu hỏi nghiên cứu luật học trông như thế nào
Câu hỏi nghiên cứu luật học thường thuộc một trong vài dạng. Dạng thứ nhất hỏi về nội dung quy định: quy định này nên được hiểu thế nào, có mâu thuẫn với quy định khác không. Dạng thứ hai hỏi về thực tiễn: quy định này đang được áp dụng thế nào, có thống nhất không, vì sao. Dạng thứ ba hỏi về chính sách: quy định này có đạt mục tiêu không, nên sửa theo hướng nào, các nước khác giải quyết vấn đề tương tự ra sao.
Sinh viên mới thường đặt câu hỏi quá rộng, ví dụ "pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng". Đó là một lĩnh vực, chưa phải câu hỏi. Câu hỏi cụ thể hơn có thể là "Quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên bán trong giao dịch trực tuyến được hiểu và áp dụng thế nào trong các bản án đã công bố?". Câu hỏi càng cụ thể, phương pháp càng dễ chọn và bài viết càng có giá trị.
Câu hỏi tốt cũng phải vừa sức. Với một bài nghiên cứu sinh viên làm trong một học kỳ, câu hỏi nên trả lời được bằng nguồn tư liệu bạn tiếp cận được hợp pháp: văn bản công khai, bản án đã công bố, tài liệu thư viện, khảo sát trong phạm vi nhỏ có sự đồng ý của người tham gia. Câu hỏi đòi hỏi số liệu nội bộ của cơ quan nhà nước hay hồ sơ vụ án chưa công khai thì nên để dành cho các nghiên cứu ở bậc cao hơn.
Một mẹo để kiểm tra: nếu bạn có thể trả lời câu hỏi chỉ bằng cách mở giáo trình, đó chưa phải câu hỏi nghiên cứu. Câu hỏi nghiên cứu đòi bạn phải tìm thêm, phân tích thêm và đi đến một kết luận mà trước đó chưa có sẵn ở dạng hoàn chỉnh.
Các phương pháp nghiên cứu luật học thường dùng
Một đề tài có thể kết hợp nhiều phương pháp, nhưng nên có một phương pháp chính phù hợp với câu hỏi.
| Phương pháp | Làm gì | Hợp với câu hỏi kiểu |
|---|---|---|
| Phân tích quy phạm | Đọc, giải thích, hệ thống hoá các quy định; chỉ ra chỗ mâu thuẫn, chồng chéo, khoảng trống | Quy định này nên được hiểu thế nào, có thống nhất với văn bản khác không |
| Nghiên cứu thực tiễn xét xử | Thu thập bản án, quyết định đã công bố; phân loại; so sánh cách giải quyết | Toà án đang áp dụng quy định này ra sao, có thống nhất không |
| So sánh luật | Đặt quy định Việt Nam cạnh quy định của một vài hệ thống khác; giải thích khác biệt và bối cảnh | Nước khác giải quyết vấn đề này thế nào, có gì gợi ý cho Việt Nam |
| Lịch sử | Lần lại quá trình hình thành, sửa đổi quy định qua các thời kỳ | Vì sao quy định có dạng như hiện nay, lần sửa đổi trước giải quyết được gì |
| Khảo sát, phỏng vấn | Thu thập ý kiến, trải nghiệm của người áp dụng hoặc chịu tác động của quy định | Quy định này tác động đến nhóm người nào ra sao trong thực tế |
Phương pháp so sánh luật dễ bị dùng sai nhất: liệt kê quy định của nhiều nước mà không giải thích bối cảnh hay không rút ra được điều gì cho câu hỏi của mình. Thường so sánh sâu với một hai hệ thống có lý do lựa chọn rõ ràng có giá trị hơn so sánh nông với nhiều nước.
Chọn phương pháp theo đề tài: ba ví dụ giả định
Đề tài về một quy định mới có hiệu lực. Thực tiễn xét xử chưa nhiều, nên phương pháp chính là phân tích quy phạm kết hợp lịch sử: so quy định mới với quy định trước đây, chỉ ra điểm thay đổi, dự báo các vấn đề có thể phát sinh khi áp dụng.
Đề tài về tranh chấp phổ biến. Ví dụ tranh chấp đặt cọc trong mua bán nhà đất. Nguồn bản án phong phú, nên phương pháp chính là nghiên cứu thực tiễn xét xử: chọn một nhóm bản án có tiêu chí rõ, phân loại cách giải quyết, tìm nguyên nhân khác biệt.
Đề tài về một vấn đề chính sách. Ví dụ bảo vệ dữ liệu cá nhân của người lao động. Có thể kết hợp phân tích quy phạm với so sánh luật, đối chiếu cách tiếp cận của một hệ thống khác có quy định chi tiết, rồi đề xuất kiến nghị phù hợp với bối cảnh Việt Nam.
Viết bài nghiên cứu ngắn đầu tiên
Một bài nghiên cứu ngắn cho hội thảo hay tập san sinh viên thường dài vài nghìn chữ, theo thể lệ của đơn vị tổ chức. Trình tự dưới đây giúp bạn đi từ ý tưởng đến bản nộp.
- Viết câu hỏi nghiên cứu trong một câu và một đoạn ngắn giải thích vì sao câu hỏi đáng trả lời.
- Tìm đọc các bài đã viết về vấn đề này để biết người khác đã nói gì, ghi lại khoảng trống bài của bạn sẽ lấp.
- Thu thập tư liệu theo phương pháp đã chọn: văn bản, bản án, tài liệu so sánh, dữ liệu khảo sát.
- Lập dàn ý: đặt vấn đề, cơ sở pháp lý, phân tích, kết quả hoặc phát hiện, kiến nghị, kết luận.
- Viết bản thảo đầu không dừng lại sửa câu chữ, tập trung vào lập luận.
- Sửa lần hai: kiểm tra mỗi đoạn có phục vụ câu hỏi nghiên cứu không, bỏ đoạn thừa.
- Kiểm tra trích dẫn, tình trạng hiệu lực văn bản, cách trình bày theo thể lệ, rồi nhờ người hướng dẫn hoặc bạn học đọc trước.
Bước hai thường bị bỏ qua khiến bài viết lặp lại điều người khác đã nói. Phần tổng quan ngắn, chỉ ra rõ "các nghiên cứu trước đã làm gì, bài này làm thêm gì" là dấu hiệu cho thấy bạn hiểu vị trí công trình của mình.
Sai lầm hay gặp của người mới nghiên cứu
Phần lớn bài nghiên cứu sinh viên bị đánh giá thấp vì một vài lỗi lặp lại.
- Mô tả thay vì phân tích. Chép lại các quy định rồi kết luận "pháp luật đã quy định khá đầy đủ" không phải là nghiên cứu.
- Kiến nghị không gắn với phát hiện. Kiến nghị phải trả lời trực tiếp những bất cập mà bài đã chứng minh.
- Dùng số liệu không rõ nguồn. Số liệu phải lấy từ báo cáo công bố chính thức hoặc khảo sát của chính bạn với phương pháp được mô tả rõ.
- Khảo sát sơ sài. Phiếu hỏi vài chục bạn cùng lớp không đại diện cho "người dân". Nếu khảo sát, mô tả rõ đối tượng và giới hạn của mẫu.
- So sánh luật không có lý do chọn nước. Nên giải thích vì sao hệ thống đó có giá trị tham khảo cho câu hỏi của bạn.
- Dẫn văn bản đã hết hiệu lực. Đặc biệt dễ xảy ra với các lĩnh vực vừa có luật mới; luôn kiểm tra tình trạng hiệu lực trước khi nộp.
Tránh được sáu lỗi này, một bài nghiên cứu sinh viên đã vượt lên trên mặt bằng chung, kể cả khi kết luận chưa thật sự mới.
Trình bày kết quả tại hội thảo hay buổi xét chọn
Mở bằng câu hỏi và câu trả lời. Người nghe cần biết ngay bạn hỏi gì và tìm ra điều gì. Phần cơ sở lý luận chỉ cần vài câu, vì hội đồng đã quen với khái niệm.
Chọn hai, ba phát hiện chính. Thời gian trình bày thường ngắn. Đưa mọi chi tiết vào bài nói khiến phát hiện quan trọng bị chìm. Phần còn lại đã nằm trong bài viết.
Minh hoạ bằng một vụ việc. Một bản án được tóm tắt gọn, cho thấy rõ bất cập, thuyết phục hơn nhiều dòng mô tả chung.
Nói rõ giới hạn của nghiên cứu. Phạm vi tư liệu, cỡ mẫu khảo sát, thời điểm văn bản được dùng. Tự nêu giới hạn trước giúp bạn chủ động khi bị hỏi.
Chuẩn bị cho câu hỏi về tính khả thi của kiến nghị. Đây gần như luôn là câu hỏi được đặt ra. Hãy nghĩ trước kiến nghị của mình sẽ được thực hiện bằng văn bản nào, cơ quan nào, và có ảnh hưởng ngược đến nhóm chủ thể nào không.
Lợi ích của nghiên cứu đối với nghề luật sau này
Nghiên cứu khoa học không chỉ dành cho người định theo con đường học thuật. Kỹ năng đặt câu hỏi, tìm và đánh giá nguồn, phân tích bản án, viết lập luận chặt chẽ là kỹ năng hằng ngày của luật sư, chuyên viên pháp chế, thẩm phán, kiểm sát viên. Một bản ghi nhớ pháp lý gửi khách hàng hay một bản tham mưu trong cơ quan nhà nước có cấu trúc rất gần một bài nghiên cứu ngắn: vấn đề, quy định, phân tích, kết luận và đề xuất.
Bài nghiên cứu cũng là sản phẩm cụ thể bạn có thể nhắc đến khi xin thực tập, xin việc hay nộp hồ sơ học tiếp bậc sau đại học. Nhà tuyển dụng thường hỏi về nội dung bài, cách bạn tìm tư liệu và kết luận chính; trả lời được trôi chảy cho thấy bạn đã thực sự làm việc với luật chứ không chỉ học để thi.
Cuối cùng, nghiên cứu giúp bạn hiểu luật không đứng yên. Khi tự mình chỉ ra một chỗ chưa thống nhất trong thực tiễn áp dụng, bạn sẽ nhìn mọi quy định khác với con mắt khác: không chỉ "luật nói gì" mà còn "luật đang được hiểu thế nào và có nên như thế không".
Câu hỏi thường gặp
Sinh viên năm mấy nên bắt đầu nghiên cứu khoa học ngành luật?
Thường là từ năm hai, khi đã học các môn nền và vài môn chuyên ngành, đủ khái niệm để đặt câu hỏi. Sinh viên năm nhất có thể tham gia nhóm nghiên cứu của khoá trên để quan sát cách làm. Không có mốc bắt buộc; quan trọng là bạn có một câu hỏi thật sự muốn trả lời.
Có cần người hướng dẫn không?
Nên có. Người hướng dẫn giúp bạn thu hẹp đề tài, chọn phương pháp, chỉ ra tài liệu quan trọng và tránh những hướng đi bế tắc. Nhiều cuộc thi nghiên cứu khoa học sinh viên yêu cầu có người hướng dẫn. Hãy liên hệ sớm, kèm câu hỏi nghiên cứu sơ bộ và lý do bạn quan tâm.
Làm nghiên cứu theo nhóm hay cá nhân tốt hơn?
Mỗi cách có lợi riêng. Nhóm giúp chia việc thu thập tư liệu, nhất là khi phải đọc nhiều bản án hay làm khảo sát, và tranh luận trong nhóm giúp lập luận chắc hơn. Cá nhân giúp bài viết thống nhất về giọng văn và quan điểm. Nếu làm nhóm, phân công rõ ràng và thống nhất cách trích dẫn ngay từ đầu.
Có thể dùng bài nghiên cứu sinh viên làm nền cho khoá luận không?
Có thể, nếu quy định của trường cho phép và bạn phát triển thêm đáng kể về phạm vi và chiều sâu. Khi đó cần trích dẫn bài cũ của chính mình theo đúng quy định để tránh bị coi là tự đạo văn. Hãy trao đổi với người hướng dẫn khoá luận trước khi quyết định.
Đọc tài liệu nước ngoài để so sánh luật có cần ngoại ngữ giỏi không?
Cần đủ để đọc hiểu văn bản pháp luật và bài nghiên cứu chuyên ngành. Bản dịch có thể giúp đỡ phần nào nhưng dễ lệch thuật ngữ. Nếu ngoại ngữ còn hạn chế, hãy chọn so sánh với một hệ thống có nhiều tài liệu bằng ngôn ngữ bạn đọc tốt, và nhờ người có chuyên môn kiểm tra cách hiểu các thuật ngữ then chốt.